Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

Nhân viên MB thu nhập gần 17,9 triệu đồng cho một tháng

Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2015 mới công bố, 6 tháng đầu năm, tổng thu nhập của nhân viên ngân hàng Quân Đội (MB) đạt hơn 748 tỷ đồng, tính bình quân, mỗi nhân viên ngân hàng nhận 17,87 triệu đồng một tháng, trong đó riêng tiền lương là 10,3 triệu.

6 tháng đầu năm, ngân hàng lãi hơn 1.438 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.

So sánh với mức thu nhập của 3 tháng đầu năm, đãi ngộ của nhân viên MB quý II cải thiện hơn quý I. Việc thu nhập tăng đến trong bối cảnh quý II tổng lợi nhuận sau thuế của ngân hàng đạt hơn 818 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ 2014, chủ yếu do chi phí dự phòng rủi ro giảm.
Lũy kế 6 tháng, tổng thu nhập các hoạt động đạt hơn 4.558 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 1.438 tỷ đồng, tăng 7%. So với mục tiêu đề ra, ngân hàng đạt 54% kế hoạch lợi nhuận sau nửa đầu năm.
Tiền gửi khách hàng 6 tháng đầu năm tăng 2%, tăng trưởng tín dụng đạt 11%. 

Tập đoàn FLC cam kết đầu tư 10 sân golf ở Quảng Bình

Phát biểu tại lễ ký cam kết đầu tư, ông Đặng Tất Thắng, Phó tổng giám đốc FLC, cho biết đây là dự án quan trọng của FLC, đánh dấu bước đột phá trong lĩnh vực đầu tư phát triển sân golf của tập đoàn.

Bản cam kết đầu tư tổ hợp 10 sân golf tại tỉnh Quảng Bình được FLC ký ngày 14/8 vừa qua, trong khuôn khổ Hội nghị xúc tiến đầu tư và quảng bá du lịch Quảng Bình do UBND tỉnh tổ chức.

Ông Thắng khẳng nhấn mạnh nếu được chấp thuận đầu tư, FLC sẽ bắt tay ngay vào triển khai và sẽ đưa một số sân đầu tiên cùng khoảng 500 phòng khách sạn vào hoạt động sau một năm, hoàn thành toàn bộ dự án sau 3 năm.

1-3-JPG-6253-1439618323.jpg
Đại diện UBND tỉnh Quảng Bình, Tập đoàn FLC và nNgân hàng BIDV cùng ký bản ghi nhớ cam kết đầu tư tổ hợp 10 sân golf tại Quảng Bình.
Ông Thắng tiết lộ, tập đoàn sẽ mua bản quyền các sân golf nổi tiếng thế giới, lấy thiết kế đó để xây dựng tổ hợp sân golf ở Quảng Bình. Điều này sẽ giúp thu hút các golf thủ trên khắp thế giới đến với Quảng Bình, vì trong một thời gian ngắn, họ có thể trải nghiệm nhiều kiểu sân khác nhau.
“Người chơi golf luôn thích chinh phục và khám phá những sân chơi mới. Thay vì phải bỏ tiền của, thời gian đi khắp thế giới để được chơi những sân golf đẳng cấp thì họ chỉ cần đến một điểm như Quảng Bình là có thể trải nghiệm được tất cả”, ông Thắng nói.
Theo phương án ý tưởng đầu tư của Tập đoàn FLC được UBND tỉnh Quảng Bình phê duyệt quy hoạch định hướng, tổ hợp 10 sân golf sẽ được xây dựng dọc theo bờ biển từ TP Đồng Hới, qua huyện Quảng Ninh, đến điểm cuối là xã Hồng Thủy, huyện Lệ Thủy. Bình quân mỗi sân golf có 18 lỗ, tương đương với tổng nguồn vốn đầu tư tối thiểu là 3.000 tỷ đồng. Diện tích đất dành cho tổ hợp sân golf này khoảng 1.000 ha.
5-1-JPG-5105-1439618323.jpg
Các đại biểu tham dự Hội nghị xúc tiến đầu tư và quảng bá du lịch Quảng Bình
Khu vực được UBND tỉnh Quảng Bình dự định quy hoạch làm cụm sân golf là một vùng đồi cát bị sa mạc hóa, hầu như không có cư dân sinh sống hay canh tác. Nhiều năm nay, tỉnh đã thử nghiệm nhiều loại giống cây để cải tạo nhưng không thành công. Do vậy, nếu làm được tổ hợp sân golf tại đây sẽ giúp nâng cao giá trị sử dụng cho dải sa mạc cát ven biển này. Thảm cỏ xanh, rừng cây của sân golf sẽ chống được nạn cát bay, cát chạy, bảo vệ mùa màng, nhà cửa của người dân phía trong, ven các đồi cát.
Ngoài tác dụng ngăn cản tình trạng sa mạc hóa, dự án tổ hợp sân golf sẽ trực tiếp và gián tiếp tạo ra hàng nghìn việc làm cho người lao động địa phương.
“Cứ mỗi sân golf sẽ kèm theo một resort đẳng cấp 5 - 6 sao để phục vụ khách du lịch và các golf thủ lưu trú, nghỉ dưỡng. Bình quân mỗi sân golf thu hút hàng trăm lao động trực tiếp và một lượng lớn lao động phục vụ gián tiếp ở các nhà hàng, khách sạn...”, ông Đặng Tất Thắng cho biết, đồng thời khẳng định, Tập đoàn FLC cam kết sẽ sử dụng 90% lao động từ địa phương.
Không chỉ trực tiếp mang lại những lợi ích về môi trường, kinh tế, xã hội như kể trên, tổ hợp sân golf được đánh giá sẽ còn là một cú hích trong thu hút các nhà đầu tư đến với Quảng Bình.
Trước đó, trong buổi gặp gỡ giữa Ban lãnh đạo tỉnh Quảng Bình với các nhà đầu tư tại Hà Nội nhằm chuẩn bị cho Hội nghị xúc tiến đầu tư, FLC cũng đưa ra đề xuất ý tưởng đầu tư xây dựng một chuỗi sân golf tại Quảng Bình. Đây là một mô hình rất mới trên thế giới và tại châu Á hiện mới chỉ có ở Trung Quốc. Với mô hình này, du khách có thể lưu trú liên tục lên tới vài tuần để chơi golf, đồng thời có thể biến cụm sân golf này thành nơi tổ chức các giải golf của khu vực và thế giới.
Tập đoàn FLC là một trong những nhà đầu tư, phát triển bất động sản hàng đầu Việt Nam hiện nay với danh mục các dự án trải khắp các tỉnh thành trên cả nước, có tổng giá trị đầu tư lên đến 2 tỷ USD.
Bên cạnh các dự án nhà ở, văn phòng, khu công nghiệp, FLC cũng phát triển mạnh các dự án sân golf gắn với du lịch nghỉ dưỡng. Đầu tháng 7 vừa qua, Tập đoàn đã khánh thành và đưa vào hoạt động Quần thể du lịch nghỉ dưỡng sinh thái FLC Sầm Sơn, trong đó có hạng mục sân golf 18 lỗ. Dự án quy mô hơn 200 ha, tổng mức đầu tư 5.500 tỷ đồng này có thời gian thi công chỉ 9 tháng.
Cuối tháng 5/2015, FLC cũng đã khởi công một dự án tương tự tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Hạng mục sân golf của dự án này dự kiến sẽ được khánh thành trước Tết Nguyên đán tới đây.
Đối tác thiết kế và quản lý xây dựng sân golf của FLC là các tên tuổi hàng đầu của thế giới trong lĩnh vực này như Nicklaus Design và Flagstick. Trong đó, Nicklaus Design là công ty của huyền thoại golf thế giới và đã thiết kế trên 350 sân golf trên toàn cầu, còn Flagstick là nhà quản lý xây dựng sân golf hàng đầu của Mỹ.

Uber trước áp lực thay đổi về mô hình kinh doanh

Thứ 3 vửa rồi, cảnh sát Hong Kong (Trung Quốc) bắt giữ 5 tài xế Uber sau một năm hãng này bắt đầu triển khai dịch vụ tại đây. 

Trở thành doanh nghiệp mới thành lập có giá trị lớn nhất thế giới với 51 tỷ USD, song Uber cũng gặp vô số rắc rối tại nhiều quốc gia, chủ yếu do mô hình kinh doanh gây tranh cãi.

Lý do được đưa ra là những tài xế này không đáp ứng đủ yêu cầu về bảo hiểm và giấy phép thuê xe theo luật.

Cảnh sát thu dọn một số máy tính và tài liệu từ văn phòng Uber về điều tra. Hai nhân viên tại đây cũng bị tạm giam. Người phát ngôn của Uber khu vực Bắc Á, Harold Li cho biết mọi chuyến đi của hãng đều được đã được bảo hiểm. “Chúng tôi cam kết bảo vệ những đối tác - tài xế và sẽ phối hợp chặt chẽ với cảnh sát để giải quyết vấn đề”, vị này phát biểu.
uber-2573-1439545478.jpg
Cảnh sát bắt giữ một nhân viên Uber từ văn phòng của hãng tại Hong Kong (Trung Quốc) ngày 11/8. Ảnh: Reuters
Australia tuần này cũng khẳng định 29 lái xe Uber sẽ phải đối diện với những án phạt về cung cấp dịch vụ taxi bất hợp pháp. Vào hồi tháng 6, 5 tài xế khác tại Jakarta (Indonesia) cũng bị giam giữ sau khi những hãng taxi địa phương phàn nàn về việc Uber hoạt động mà không có giấy phép lái xe taxi.
Trước đó một tháng, cảnh sát Trung Quốc tiến hành khám xét văn phòng Uber tại Thành Đô, Tứ Xuyên do những nghi ngờ về “hoạt động không phép”. Cuộc lục soát tương tự cũng diễn ra vào tháng 4 tại văn phòng Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông.
Tây Ban Nha, Đức, Thái Lan và Hàn Quốc là những quốc gia đang cấm dịch vụ Uber. Tháng trước hãng này giành được một chiến thắng hiếm hoi tại Canada khi tòa án Ontario không chứng minh được Uber hoạt động như một hãng taxi.
Tất cả những cuộc điều tra này đều xuất phát từ bản chất loại hình hoạt động kinh doanh của Uber. Doanh nghiệp này luôn khẳng định mình là một hãng công nghệ, và không quản lý phương tiện giao thông hay thuê nhân viên làm tài xế. “Đây chỉ là dịch vụ kết nối giữa bên cung cấp và bên có nhu cầu”, Clement Teo – chuyên gia phân tích tại Forrester nhận định.
Tuy nhiên chừng đó là chưa đủ rõ ràng đối với cơ quan chức năng. Ví dụ Cơ quan thuế Australia yêu cầu tài xế Uber phải trả thuế giá trị gia tăng (GST) theo mức áp dụng đối với dịch vụ taxi, lữ hành. Mặc dù Uber tái khẳng định mình không phải là hãng taxi, nhưng chính quyền Australia cũng như nhiều nơi khác, cho rằng dịch vụ mà họ cung cấp không khác gì so với những hãng taxi khác.
Như vậy, sự giống nhau về dịch vụ cung cấp với những hãng taxi truyền thống khiến Uber đối diện với rất nhiều vụ kiện tụng. “Nguyên nhân nằm ở việc Uber đã bỏ qua phương thức kinh doanh truyền thống, mà đi kèm vào đó là rất nhiều quy định liên quan”, Daphne Kasriel Alexander – chuyên viên tư vấn tại Euromonitor chia sẻ.
Ngoài ra công nghệ mới mang tính sáng tạo và cả "hủy diệt" này đang khiến những tài xế truyền thống cảm thấy bất công.
uber-1-1333-1439545478.jpg
Những tài xế taxi truyền thống biểu tình Uber tại  Santa Monica, California năm 2014. Ảnh: Reuters
Những vụ kiện tụng sẽ còn phức tạp hơn khi Uber tiếp tục cho rằng những lái xe không phải là nhân viên của hãng, do đó đẩy hầu hết trách nhiệm pháp luật cho những cá nhân này.
“Thay vì đẩy mọi rủi ro cho tài xế, Uber có thể tạo ra một thị trường mới, nơi mà rủi ro và phần thưởng được tái phân phối”, Brishen Rogers - Phó giáo sư Luật tại Đại học Temple (Mỹ) nhận định. Những câu hỏi đại loại như tài xế sẽ phải chịu rủi ro bao nhiêu? Họ sẽ nhận lại được những gì?... vẫn chưa được trả lời.
Ngoài ra, việc đảm bảo an toàn hành khách cũng là mối lo ngại nữa của chính quyền, sau vụ một phụ nữ bị tài xế Uber xâm hại tình dục tại New Delhi năm ngoái. Quấy rối tình dục tiếp tục gây rắc rối cho hãng này, khi ba tháng trước, một tài xế tại Calcutta (Ấn Độ) bị bắt giữ vì hành vi quấy rối.
Mặc dù vậy, các chuyên gia nhận định hãng này sẽ không thay đổi chiến lược kinh doanh trong thời gian tới, dù đứng trước áp lực này. “Uber đã lớn đến độ hãng sẽ không thay đổi mô hình kinh doanh”, Clement Teo nhận định.
Theo Wall Street Journal, Uber vừa trở thành doanh nghiệp tư nhân lớn nhất thế giới với 51 tỷ USD sau 5 năm hoạt động. Nó cũng là một trong những ứng dụng được tải xuống nhiều nhất trên kho Google Play và Apple Store. Hãng cũng tuyên bố đã “tạo ra” 15,000 công việc chỉ riêng tại Australia trong năm nay.

Doanh nghiệp châu Á nợ thêm 14 tỷ USD bởi vì nhân dân tệ

Theo số liệu của Bloomberg, không tính Nhật Bản và Trung Quốc, khối nợ gần 1.600 tỷ USD (cả trái phiếu và các tiền mặt) niêm yết bằng USD và euro của các công ty đã phình thêm 14 tỷ USD trong đợt phá giá kéo dài 3 ngày của đồng nhân dân tệ (NDT). 

NDT mất giá kỷ lục những ngày qua đã kéo hàng loạt tiền tệ châu Á đi xuống, khiến khối nợ nước ngoài của doanh nghiệp cũng phình lên theo.

Dù nhiều doanh nghiệp có dự phòng rủi ro tỷ giá, cả chi phí dự phòng và tiền trả nợ của họ cũng vẫn nhích lên.   

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đã hạ giá nội tệ 3 ngày liên tiếp, với mức giảm lớn nhất từ năm 1994. Động thái này cũng gây ra làn sóng bán tháo tiền tệ tại nhiều nước châu Á, đẩy rupiah Indonesia và ringgit Malaysia về đáy 17 năm. Đồng baht Thái cũng xuống đáy 6 năm vài ngày trước.
china-4-9907-1439551447.jpg
Bên ngoài một quầy đổi tiền tại Kuala Lumpur (Malaysia). Ảnh: Bloomberg
NDT mất giá cũng gây tác động lên các thị trường nợ khác. Phí bảo hiểm rủi ro vỡ nợ với trái phiếu Chính phủ Malaysia đã chạm 1,71% hôm thứ Tư - cao nhất từ tháng 10/2011. Phí này tại Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam cũng lên cao nhất hơn một năm.
Nhà đầu tư cũng đang đòi hỏi nhiều hơn khi nắm giữ trái phiếu được đánh giá "rác" tại châu Á, với lãi cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ 0,25%, Bank of America Merrill Lynch cho biết. Trong khi đó, chênh lệch này với các trái phiếu được xếp hạng "có thể đầu tư" là 0,05%.
Các công ty Indonesia chịu tác động mạnh nhất, Wai Hoong Leong – nhà phân tích tại hãng quản lý tài sản Nikko nhận xét. "Nếu nhìn vào lãi suất trái phiếu doanh nghiệp tại Indonesia, anh sẽ thấy nợ niêm yết bằng USD là nguồn vay lớn của họ. Vì vậy, khi nội tệ yếu, lợi nhuận của họ sẽ bị giảm mạnh", ông nhận xét.
Giá trái phiếu niêm yết bằng USD của hãng lốp Gajah Tunggal và hãng sản xuất thức ăn chăn nuôi Japfa Comfeed Indonesia đã xuống kỷ lục tuần này, khi đồng rupiah mất 1,8% so với USD. Cả hai công ty này gần đây đều đã bị Standard & Poor’s đánh tụt tín nhiệm do việc kinh doanh chịu ảnh hưởng lớn từ tỷ giá.
Tại Malaysia, đồng ringgit mất giá 2,3% hôm qua cũng làm dấy lên nhiều lo ngại. Kinh tế Malaysia đã tăng trưởng chậm nhất gần 2 năm trong quý II, sau thông tin cho thấy thuế mới đã kìm hãm tiêu dùng tại nước này. Các quỹ nước ngoài cũng rút ra 3 tỷ USD khỏi thị trường chứng khoán Malaysia năm nay, khi Thủ tướng Najib Razak gặp rắc rối với cáo buộc sai phạm tài chính tại một công ty đầu tư quốc doanh.  
"Chúng tôi đặc biệt lo lắng về Malaysia, do tiền tệ của họ chịu áp lực rất mạnh sau khi NDT giảm giá. Rất nhiều quỹ châu Á nắm giữ trái phiếu nước này. Và tình hình hiện tại cho thấy nhà đầu tư đang rời bỏ thị trường Malaysia", Gordon Tsui - Giám đốc mảng Công cụ trả lãi cố định tại Taikang Asset Management nhận xét.
Dù vậy, tiền tệ một số nước cũng đã bắt đầu phục hồi, sau khi Thống đốc PBOC - Zhang Xiaohui hôm qua tuyên bố không có cơ sở nào cho thấy NDT sẽ tiếp tục mất giá. Tim Jagger - Giám đốc Danh mục đầu tư tại Aviva Investors Global Services cho biết: "Tôi vẫn không cho rằng NDT yếu đi là việc đau đầu đến thế. Nhưng khắp nơi đều đang kêu ca về chuyện này".

Kẻ thắng - người thua khi nhân dân tệ bị yếu

Sau 3 ngày phá giá liên tiếp, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đã tăng nhẹ giá nội tệ so với USD trong phiên cuối tuần. Họ cũng tuyên bố sẽ tiếp tục can thiệp để ngăn đồng tiền này biến động quá mạnh.

Những thương hiệu hàng xa xỉ châu Âu, các hãng bay Trung Quốc và tiền tệ các nước châu Á sẽ chịu thiệt, trong khi các công ty xuất khẩu nước này lại được lợi.

Dù vậy, giá NDT giao ngay tại Trung Quốc gần như không thay đổi so với hôm thứ 5, tại 6,4003 NDT đổi một USD. Đồng tiền này đã giảm tổng cộng hơn 3% trong tuần. Theo Bloomberg, động thái của Trung Quốc sẽ có nhiều tác động lên thế giới, cả tích cực và tiêu cực.
1. Những kẻ thua cuộc 
- Các hãng hàng không Trung Quốc
Hầu hết nợ của các hãng bay Trung Quốc đều là bằng USD. Vì thế, nội tệ yếu sẽ làm tăng chi phí trả nợ và sụt giảm lợi nhuận của các công ty này.
Cổ phiếu China Southern Airlines đã giảm 18% trên sàn Hong Kong ngày 11/8 - mạnh nhất từ năm 2001. Trong khi đó, China Eastern Airlines cũng chịu chung số phận với mức giảm 16% - lớn nhất 7 năm qua. Giá NDT cứ giảm 1%, lợi nhuận hằng năm của China Southern sẽ mất khoảng 767 triệu NDT (121 triệu USD), báo cáo tài chính 2014 của hãng này ước tính.
- Các thương hiệu hàng tiêu dùng coi Trung Quốc là thị trường lớn thứ hai
Apple-7928-1439548385.png
Apple là một trong các công ty có nguồn thu lớn từ Trung Quốc. Ảnh: Tech Journal
Cổ phiếu Apple đã giảm 5,2% ngày 11/8 - mạnh nhất từ tháng 1/2014. Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ iPhone lớn thứ hai của hãng này nửa đầu năm nay. NDT yếu đi có thể khiến Táo Khuyết phải tăng giá hoặc chấp nhận lợi nhuận và tăng trưởng giảm sút.
Cổ phiếu hãng sản xuất đồng hồ Thụy Sĩ - Swatch Group cũng mất 3,6% hôm thứ Ba. 37 % doanh thu họ tới từ Trung Quốc.
- Các công ty sản xuất hàng xa xỉ châu Âu
Là đối tác thương mại lớn của Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc và tầng lớp trung lưu nước này đã mang lại lợi ích không nhỏ cho các thương hiệu cao cấp tại đây. NDT yếu đã khiến người tiêu dùng Trung Quốc càng khó mua ôtô Đức, đồng hồ Thụy Sĩ hay túi xách Pháp, do giá cả cao lên.
Cổ phiếu của BMW, với 19% doanh thu từ Trung Quốc năm 2014, đã giảm 4% hôm thứ Ba. Cổ phiếu LVMH Moet Hennessy Louis Vuitton cũng mất 5,4% hôm đó. Năm ngoái, các quốc gia châu Á (trừ Nhật Bản) đóng góp khoảng 29% doanh thu cho các hãng sản xuất hàng xa xỉ.
- Các công ty sản xuất hàng hóa
NDT yếu sẽ làm tăng chi phí nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc. Cổ phiếu Vale - hãng sản xuất quặng sắt lớn nhất thế giới, đã mất 5,1% trên sàn chứng khoán Sao Paulo (Brazil). Trung Quốc chiếm 37% doanh thu của Vale trong quý II. Năm ngoái, nhập khẩu của Trung Quốc cũng đóng góp tới 35% doanh thu hãng khai mỏ BHP Billiton và 38% doanh thu Rio Tinto.
- Tiền tệ các nước châu Á
Hai ngày trước, tất cả các đồng tiền lớn của châu Á đều giảm do lo ngại nhân dân tệ yếu sẽ buộc giới chức nước họ hạ giá tiền tệ theo để cạnh tranh hàng xuất khẩu. Dù vậy, từ sau 12/8, mức giảm đã chậm lại và dần ổn định.
2. Người chiến thắng: Các hãng xuất khẩu Trung Quốc
Các nhà xuất khẩu địa phương nói chung đều được hưởng lợi từ sự giảm giá của NDT. Đặc biệt là các công ty có lợi nhuận lớn từ nước ngoài, như Lenovo hay Tập đoàn Sản xuất Máy móc Trung Quốc.
Dong Yang - Tổng thư kí của Hiệp hội Sản xuất Ôtô Trung Quốc cho biết xuất khẩu ôtô đã chậm lại những năm qua, do yen Nhật và won Hàn Quốc yếu đi, khiến họ có lợi thế về giá. Yin Tongyue - Chủ tịch Chery Automobile - Tập đoàn xuất khẩu ôtô lớn nhất Trung Quốc, cho biết ông ủng hộ NDT yếu, bởi việc này có lợi cho doanh thu ở nước ngoài của công ty.
Các hãng sản xuất dệt may và quần áo cho thị trường nước ngoài cũng sẽ được hưởng lợi. Cổ phiếu một số hãng như Huafang, Li&Fung đều tăng hơn 5% trong phiên 11/8.

Lịch sử chiến tranh về tiền tệ

Thuật ngữ "chiến tranh tiền tệ" lần đầu được giới điều hành kinh tế nhắc tới năm 2010, khi Bộ trưởng Tài chính Brazil - Guido Mantega lên án những động thái cố ý theo đuổi chính sách nội tệ yếu của các nước.

Cuộc đua phá giá đồng tiền liên tục diễn ra khi các nền kinh tế gặp trục trặc, gây ra những hậu quả ở phạm vi xuyên quốc gia suốt gần một thế kỷ.

Khi ấy, Brazil được xem là một trong những nạn nhân của việc điều hành lãi suất thấp tại Mỹ,  khiến vốn đầu tư ồ ạt chảy vào các thị trường mới nổi, hàng xuất khẩu của Brazil trở nên đắt đỏ...

Tuy nhiên, trước đó 3 năm, người quan tâm đến kinh tế, nhất là tại châu Á đã biết đến cụm từ "chiến tranh tiền tệ", khi nó là tiêu đề cuốn sách nổi tiếng (bán được khoảng 200.000 bản chính thức) của tác giả Trung Quốc - Song Hongbing. Nội dung cuốn sách nói về chính sách tiền tệ của các quốc gia phương tây, nơi tác giả cho rằng ngân hàng trung ương và các chính sách bị thao túng bởi một nhóm nhà băng, tổ chức tài chính tư nhân.
Trong những năm gần đây, khái niệm này càng được nhắc đến nhiều hơn, khi các nền kinh tế đua nới lỏng tiền tệ để kích thích tăng trưởng. Trước đợt phá giá nhân dân tệ mới đây của Trung Quốc, Nhật Bản từng bị chỉ trích vì để đồng yen giảm giá tới 28% so với USD trong vòng 2 năm, giúp các hãng xuất khẩu của nước này tăng vọt lợi nhuận.
china-currency-war-8106-1439463675.jpg
Cuộc chiến tranh tiền tệ đầu tiên đã diễn ra từ thập niên 30 của thế kỷ trước. Ảnh: SCMP
Dù thuật ngữ "chiến tranh tiền tệ" nêu trên chỉ xuất hiện những năm gần đây, song bản chất những cuộc đua phá giá đồng tiền đã diễn ra từ những năm 30 của thế kỷ XX, trước cuộc Đại suy thoái của kinh tế toàn cầu. Tại thời điểm đó, các nước đã từ bỏ hệ thống bản vị vàng - cố định giá trị đồng tiền với giá kim loại quý này.
Cuộc chiến đầu tiên xảy ra trong giai đoạn 1921 - 1936, khi các nước sau thời gian dài tuân thủ hệ thống bản vị vàng đã quyết định từ bỏ hệ thống này. Với gánh nặng nợ nần hậu Thế chiến I, Anh và Pháp không thể trả nợ cho Mỹ, dẫn tới tín dụng và thương mại bị đóng băng. Trong khi đó, Đức là nước bại trận và phải bồi thường cho các bên thắng trận nên đã quyết định in thêm tiền trả nợ.
Động thái của Ngân hàng Trung ương Đức (Reichsbank) buộc Pháp phải phá giá đồng Franc trong năm 1925 để duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa. Lúc này, Anh và Mỹ vẫn duy trì hệ thống bản vị vàng trước chiến tranh, khiến hàng hóa của họ ngày một đắt đỏ.
Đến năm 1931, Anh không thể chịu đựng thêm và từ bỏ hệ thống bản vị vàng. 2 năm sau đó, Mỹ phá giá USD để bù đắp những lợi thế bị mất sau khi Anh phá giá tiền tệ. Năm 1936, Pháp cũng rời bỏ bản vị vàng.
Trong những năm suy thoái, Mỹ đã tạm ngừng việc xuất khẩu vàng, khiến giá tăng mạnh từ 20,67 USD mỗi ounce lên 35 USD. Anh và Pháp sau đó tiếp tục phá giá tiền tệ. Chỉ đến khi cả ba nước đạt được thỏa thuận chung về tỷ giá, cuộc đua hạ giá tiền tệ lần thứ nhất mới kết thúc.
Hội nghị Bretton Woods diễn ra tại Mỹ năm 1944 được xem là dấu mốc quan trọng trong việc xác lập ra hệ thống tài chính - tiền tệ mới của thế giới, với việc thống nhất tỷ giá cố định cho các đồng tiền chính và cho phép ngân hàng trung ương được can thiệp vào thị trường tiền tệ. Hệ thống này quy định một ounce vàng có giá 35 đôla Mỹ và cho đến khi sụp đổ năm 1971, nó đã giúp ngăn chặn sự tái diễn của chiến lược chạy đua phá giá đồng tiền như trên. USD từ đó trở thành đồng tiền quốc tế chủ chốt, và các nước chấp nhận neo giá trị đồng tiền của mình với USD. 
Sau một thời gian yên ắng, đến năm 1967, chiến tranh tiền tệ lần thứ II nổ ra với Anh là nước khơi mào. Đồng bảng bị phá giá mạnh, do lượng tiền phát hành khi đó đã gấp tới 4 lần dự trữ vàng của Anh, đồng nghĩa với việc nếu người nắm giữ đồng bảng yêu cầu đổi lấy vàng thì ngân khố Anh sẽ trống rỗng.
Đối mặt với lạm phát tăng cao, Pháp cũng quyết định rút khỏi thỏa thuận ổn định tỷ giá với Anh và Mỹ. Động thái này khiến Mỹ phải chịu áp lực lớn, khi cứ mỗi giờ lại có một lượng USD tương đương 30 tấn vàng bị người nắm giữ tiền đem đổi lấy vàng. Giá vàng trên thị trường London lúc đó lên đến 45 USD một ounce.
Ngày 15/8/1971, Tổng thống Mỹ khi ấy - Richard Nixon tuyên bố ngừng cho các ngân hàng trung ương nước ngoài đổi đồng bạc xanh lấy vàng, ngừng xuất khẩu vàng, áp thuế 10% lên mọi mặt hàng nhập khẩu. Quyết định này chính là sự triển khai đồng thời biện pháp bảo hộ thị trường bằng thuế và chiến tranh tiền tệ. Tại thời điểm đó, dự trữ vàng của Mỹ chỉ còn 9.000 tấn, giảm mạnh so với 20.000 tấn năm 1950.
Đến tháng 12/1971, thỏa thuận Smithsonian được ký giữa Mỹ, Anh và Pháp, mở đường cho việc giảm giá đồng USD một cách có trật tự theo mức được các bên thống nhất. Dù vậy, thỏa thuận này không tồn tại lâu, khi ngay năm 1972, đồng bảng Anh lại bị phá giá. Tháng 6 năm đó, Đức áp đặt các biện pháp kiểm soát vốn. Hậu quả là Mỹ rơi vào suy thoái. Đến năm 1973, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tuyên bố hệ thống Bretton Woods "bị khai tử".
Năm 1985, kinh tế Mỹ phục hồi và cơn khát đầu tư vào các tài sản Mỹ khiến đồng bạc xanh lên giá 50%. Trước tình cảnh hàng hóa Mỹ mất lợi thế cạnh tranh, Washington đã buộc nhóm G7 ký một hiệp ước tại New York, cho phép giảm giá đồng bạc xanh.
Hiệp ước Plaza tồn tại trong giai đoạn 1985 - 1988, khi USD giảm giá 40% so với đồng franc Pháp và 50% so với yen Nhật. Khi các bên còn lại không thể chịu đựng thêm tác động của đồng USD yếu, G7 cùng Canada và Italy đã nhóm họp tại điện Louvre (Paris) năm 1987 để ngăn đà giảm giá của USD.
Ngoài hai cuộc chiến tiền tệ lớn nêu trên, thế giới cũng từng chứng kiến một vài cuộc khủng hoảng tiền tệ nhỏ, khi tỷ phú George Soros tấn công phá giá bảng Anh năm 1992 và đồng Peso Mexico năm 1994.
Khởi đầu với việc Trung Quốc đạt thặng dư thương mại khổng lồ với Mỹ trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, nhờ duy trì đồng NDT ở mức thấp, sau khi ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ, Mỹ phá giá đồng USD với các gói nới lỏng định lượng (QE). Đồng bạc xanh do đó giảm giá mạnh so với các ngoại tệ khác, trong đó có NDT.
Nhật cũng phá giá đồng yen để thúc đẩy kinh tế phục hồi. Tương tự, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) - Mario Draghi đã quyết định bơm mạnh thanh khoản vào thị trường, để hồi sinh kinh tế eurozone.
Đến lượt mình, Trung Quốc cũng đang nỗ lực phá giá NDT để giành lại lợi thế cạnh tranh đã mất. Việc này đã khiến các quốc gia châu Á khác như Hàn Quốc, Thái Lan và thậm chí cả Ấn Độ cũng đang cân nhắc hạ giá nội tệ.
Nhưng cũng như hai cuộc chiến tranh tiền tệ trước, khó có ai là người chiến thắng rõ ràng trong cuộc chiến này, ngoại trừ những hỗn loạn. Có lẽ sẽ lại cần một hiệp ước nữa để kết thúc cuộc chiến mới nhất này, nhưng điều đó sẽ chưa thể diễn ra một sớm một chiều.

BIDV chưa tính đến chuyện mua lại DongA Bank

Trao đổi với báo chí sau khi Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được Ngân hàng Nhà nước chỉ định tham gia vào Ban Kiểm soát đặc biệt Ngân hàng Đông Á (DongA Bank), Phó tổng giám đốc BIDV Lê Kim Hoà tự tin khi đánh giá cơ hội phục hồi của nhà băng này.

Được chỉ định tham gia Ban Kiểm soát đặc biệt Ngân hàng Đông Á, đại diện BIDV cho rằng nhà băng này có thể phục hồi, dựa trên nền tảng công nghệ, mạng lưới tốt vốn có...

Vì sao BIDV tham gia vào Ban Kiểm soát đặc biệt Ngân hàng Đông Á, thưa ông?
[Caption]
Ông Lê Kim Hoà - Phó tổng giám đốc BIDV.
- BIDV tham gia theo chỉ định của Ngân hàng Nhà nước, điều này phù hợp với quy định của pháp luật và của ngành.
Thông tư 07/2013 ngày 14/3/2013 nêu rõ trường hợp kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng, theo đó "thành viên Ban Kiểm soát là cán bộ của Ngân hàng Nhà nước, của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, các chuyên gia ngân hàng, cán bộ của các ngân hàng khác do Ngân hàng Nhà nước trưng tập".
BIDV là ngân hàng có sở hữu cổ phần áp đảo của Nhà nước, đồng thời đã có kinh nghiệm trong xử lý các tổ chức tín dụng trước đây như Ngân hàng Nam Đô năm 1999; hỗ trợ hợp nhất 3 ngân hàng Đệ Nhất, Tín Nghĩa, SCB năm 2011 và gần đây là nhận sáp nhập MHB.
Ban Kiểm soát đặc biệt sẽ thực hiện những việc gì tại Ngân hàng Đông Á?
- Chúng tôi có bốn việc cần phải làm. Đầu tiên và quan trọng nhất là đảm bảo thanh khoản của DongA Bank, bảo vệ và đảm bảo lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, tạo sự ổn định của hệ thống và ổn định kinh tế-xã hội TP HCM.
Thứ hai là kiểm soát chặt chẽ Ngân hàng Đông Á theo quy định pháp luật, tức là theo đúng quy định về kiểm soát đặc biệt một tổ chức tín dụng. Thứ ba là đánh giá thực trạng hoạt động, có biện pháp xử lý theo quy định và cuối cùng là cơ cấu lại và ổn định hoạt động của DongA Bank.
Ông đánh giá như thế nào về triển vọng của Ngân hàng Đông Á?
- Hiện tại chúng tôi chưa có đầy đủ thông tin để có thể đưa ra đánh giá chính xác thực trạng của nhà băng này nên e rằng đưa ra đánh giá về triển vọng lúc này là hơi sớm.
Tuy nhiên, như BIDV được biết, Ngân hàng Đông Á có 7 triệu khách hàng; trên 220 chi nhánh, phòng giao dịch; phát triển tương đối tốt dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đặc biệt dịch vụ thẻ của Đông Á dựa trên hệ thống công nghệ hiện đại. Trên nền tảng đó, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và BIDV, chúng tôi tin Đông Á sẽ có cơ hội phục hồi, phát triển sau khi khắc phục những khó khăn hiện tại.
BIDV tính toán thế nào về khả năng mua lại hay sáp nhập Ngân hàng Đông Á?
- Chúng tôi chỉ cử nhân sự tham gia vào Ban Kiểm soát đặc biệt và cử cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn đảm nhiệm một số vị trí lãnh đạo chủ chốt của Đông Á để quản trị, điều hành theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Việc tham gia này không ảnh hưởng đến nguồn lực kinh doanh của BIDV.
Sau khi hỗ trợ DongA Bank khắc phục xong những tồn tại, tiếp theo như thế nào chúng tôi sẽ tiến hành theo chủ trương chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Hiện tại BIDV chưa tính đến phương án mua lại, sáp nhập Đông Á.